Trang này sử dụng các cookie để cải thiện tính năng và chức năng.
 Sử dụng trang này nghĩa là bạn đã đồng ý về việc này.
 Chúng tôi coi trọng thông tin cá nhân và việc bảo mật cho bạn.
 Vui lòng xem Chính sách CookieChính sách Bảo mật của chúng tôi, chúng tôi vừa cập nhật cho cả hai chính sách này.
Cấu hình RAID và đề xuất

TỔNG QUAN

Để lưu trữ dữ liệu, người ta thường dùng RAID (Mảng ổ độc lập dự phòng) để bảo vệ dữ liệu khi phương tiện lưu trữ bị hỏng hóc.
 RAID và các phương pháp bảo vệ khác khác nhau về cách chúng được tạo ra để đáp ứng các yêu cầu về ổ vật lý tạo nên chúng.
 Chính sách bảo vệ dữ liệu thường đi theo ứng dụng cụ thể, và thường phải chấp nhận đánh đổi giữa hiệu năng, dung lượng, khả năng chống chịu và thời gian khôi phục.
 Tài liệu này bàn về các tùy chọn bảo vệ dữ liệu RAID cho thiết bị DCP1000 NVMe của Kingston trên cả môi trường Linux và Windows.


BỐI CẢNH


Thẻ PCIe đang ngày càng trở thành một tùy chọn phổ biến để triển khai SSD PCIe hiệu năng cao vào các kiến trúc hệ thống.
 Nhiều nhà thiết kế hệ thống cần dùng RAID hoặc các cơ chế bảo vệ dữ liệu khác trên những giải pháp lưu trữ AIC (Thẻ bổ sung) này.
 Yêu cầu này đòi hỏi phải triển khai nhiều AIC để thực thi các kế hoạch bảo vệ dữ liệu.
 Tuy nhiên, việc dùng nhiều AIC có thể không được ưa thích vì lý do điện năng, chi phí hoặc không gian bị hạn chế.


AIC NVMe DCP1000 giải quyết vấn đề này vì nó chứa nhiều SSD trong một ổ NVMe duy nhất. Những SSD này xuất hiện ở dạng các ổ NVMe riêng biệt, cho phép thực hiện các kế hoạch bảo vệ dữ liệu khác nhau, ví dụ như có thể tạo RAID phần mềm (SW) trên một thẻ duy nhất/riêng lẻ cũng như trên nhiều thẻ AIC.

Bảng 1: Các ví dụ về bảo vệ dữ liệu (Nguồn: Wikipedia)

CẤU HÌNH THƯỜNG DÙNG

Khi một AIC NVMe DCP1000 được triển khai vào một hệ thống, nó sẽ xuất hiện ở dạng 4 ổ SSD vật lý riêng lẻ.
 Dưới đây là bốn cấu hình cài đặt thường dùng khi triển khai AIC đa ổ.


Cấu hình1:
 JBOD

Có những ứng dụng tự bảo vệ dữ liệu hoặc có thể chống được tình trạng mất dữ liệu nên không cần phải dùng RAID ở mức AIC.
 Trong một môi trường JBOF (Just a Bunch Of Flash), không cần tiến hành thêm bước cài đặt nào.
 Ổ DCP1000 sẽ thể hiện dưới dạng 4 ổ SSD độc lập và ứng dụng có thể sử dụng mỗi ổ mà không cần lập cấu hình RAID nào, nếu muốn.
 Cấu hình JBOF sẽ vẫn có khả năng bảo vệ cho toàn bộ đường truyền dữ liệu nhưng nó sẽ không tự bảo vệ được khi có bất kỳ ổ nào bị hỏng.
 Việc cài đặt JBOF sẽ cho phép nhận được hiệu năng và dung lượng tối đa cho mỗi ổ trong bốn ổ riêng biệt bên trong DCP1000.


Cấu hình 2:
 RAID SW trên Linux


Hầu hết các hệ điều hành (HĐH) như Linux đều có các phương thức tích hợp sẵn để tạo RAID SW.
 Khi một ổ DCP1000 được triển khai vào một hệ thống, nó sẽ xuất hiện ở dạng 4 ổ SSD riêng lẻ.
 Có thể sử dụng RAID phần mềm (SW) ở mức HĐH phân tán (striping) hoặc bảo vệ dữ liệu trên những thiết bị này.
 Các cấu hình RAID điển hình như RAID0, 1, 5, 10, v.v. đều có thể được tạo thành từ ổ DCP1000 duy nhất hoặc nhiều ổ DCP1000 lắp đặt trong hệ thống.
 Có thể sử dụng RAID SW để cấu hình một thẻ AIC DCP1000 duy nhất thành một không gian lưu trữ có tên duy nhất theo ý muốn.

Bảng 2: Ví dụ về cấu hình RAID-0 trên Linux
Chi tiết
HĐH Linux – CentOS 7.2
Ví dụ về RAID
 RAID-0 (Phân tán dữ liệu lên 4 thiết bị) – Kích thước khối 256K

Lệnh mẫu mdadm --create /dev/md0 --level=raid0 --raid-devices=4 /dev/nvme0n1 /dev/nvme1n1 /dev/nvme2n1 /dev/nvme3n1 --chunk=256K
Bảng 4: Ví dụ về cấu hình RAID-10 trên Linux
Chi tiết
HĐH Linux – CentOS 7.2
Ví dụ về RAID
 RAID-10 (Nhân bản (Mirroring) + Phân tán (Striping) lên 4 thiết bị) – Kích thước khối 64K
Lệnh mẫu mdadm --create /dev/md0 --level=raid10 --raid-devices=4 /dev/nvme0n1 /dev/nvme1n1 /dev/nvme2n1 /dev/nvme3n1 --chunk=64K

Theo kết quả phân tích nội bộ, đã thực hiện được nhiều thành tựu quan trọng:
1) Các chức năng RAID tích hợp sẵn cho NVMe; RAID 0, 1, 5, 10 cũng đã được xác kiểm tra xác nhận

2) Tăng giảm dung lượng theo ý muốn (trên mỗi cấu hình RAID được thử nghiệm)
3) Hiệu năng đã tăng giảm được theo ý muốn:
 80%-95% hiệu năng JBOF

Bảng 3: Ví dụ về cấu hình RAID-1 trên Linux
Chi tiết
HĐH Linux – CentOS 7.2
Ví dụ về RAID RAID-1 (Nhân bản dữ liệu (mirroing) lên 2 thiết bị) – Kích thước khối 256K
Lệnh mẫu mdadm --create /dev/md0 --level=raid1 --raid-devices=2 /dev/nvme0n1 /dev/nvme1n1 --chunk=256K
(có thể thiết lập md1 bằng 2 ổ còn lại)

Bảng 5: Ví dụ về cấu hình RAID-5 trên Linux
Chi tiết
HĐH Linux – CentOS 7.2
Ví dụ RAID RAID-5 (Cho phép một ổ duy nhất trong 4 ổ bị chết) – Kích thước khối 256K
Lệnh mẫu mdadm --create /dev/md0 --level=raid5 --raid-devices=4 /dev/nvme0n1 /dev/nvme1n1 /dev/nvme2n1 /dev/nvme3n1 --chunk=256K
Cấu hình 3:
 RAID SW trên Windows

Môi trường Windows cũng có các phương thức tích hợp sẵn để tạo RAID.
 Khi một AIC DCP1000 được triển khai vào một hệ thống Windows, nó sẽ xuất hiện ở dạng 4 ổ riêng lẻ.
 Có thể dùng RAID SW trên Windows để cung cấp tính năng bảo vệ dữ liệu cho những ổ này.
 Có thể sử dụng các phương thức tạo điển hình như phân tán hoặc nhân bản dữ liệu đơn giản bằng Disk Management.
 Cũng có thể sử dụng trình quản lý phân vùng Storage Spaces. Khả năng hỗ trợ tích hợp sẵn cho Windows NVMe đã được xác nhận trên Win8.1, Win10, Win2012 Server R2 và Win2016 Server.


TÓM TẮT

Ngành tiếp tục tìm ra những phương thức mới lạ để cung cấp khả năng bảo vệ dữ liệu khi thiết bị lưu trữ bị hỏng hóc.
 Tạo khả năng bảo vệ dữ liệu ở lớp phần mềm (ví dụ:
 RAID SW) cho phép có được các phương pháp triển khai linh hoạt hơn và giúp các nhà thiết kế đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ứng dụng đang được phục vụ.
 Các SSD NVMe DCP1000

hỗ trợ nhiều ổ trên một AIC duy nhất và RAID SW ở mức thiết bị chủ có thể được tận dụng để tạo ra khả năng bảo vệ dữ liệu đúng đắn cho ứng dụng đang được triển khai.
 Triển khai khả năng bảo vệ dữ liệu trên một thiết bị AIC duy nhất có thể giảm đáng kể chi phí và mức độ phức tạp của trung tâm dữ liệu.


        Back To Top